3 smartphone Nokia chạy Android khác Lumia 520 những gì?

Thứ nhất. Nokia X sử dụng giao diện hoàn toàn mới nhưng vẫn tận dụng được các dịch vụ và hệ sinh thái Android mang lại.

Nhạc tiền chiến, nhạc Vàng và nhạc Đỏ

Bối cảnh ra đời của nhạc tiền chiến cũng chính là bối cảnh ra đời của tân nhạc Việt Nam. Đó là Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 (cuối thập niên 30 cho đến chiến tranh Việt Pháp bùng nổ - 1945..

Thương hiệu: Làm khác đi hay vì làm tốt hơn?

Trong hai cuốn sách gối đầu dường cho giới quản trị là Chiến lược cạnh tranh (Competitive Strategy, 1980) và Lợi thế cạnh tranh (Competitive Advantage, 1985), bậc thầy về chiến lược cạnh tranh Michael Porter cho rằng điều cốt lõi trong cạnh tranh là phải khác biệt hoá một cách rõ ràng so với các đối thủ.

Kim cương và thuỷ tinh khác nhau như thế nào?

Kim cương là một trong những loại đá quý nhất hiện có trên bề mặt trái đất. Vì thế có hiện tượng làm giả kim cương từ thủy tinh hoặc vật liệu khác...

Khác nhau HÀ NỘI vs SÀI GÒN

Sự khác nhau về sinh hoạt,suy nghĩ giữa hai thủ đô của Việt Nam: Hà Nội thủ đô chính trị, Sài Gòn thủ đô kinh tế, được thể hiện rất vui nhộn nhưng không kém phần ý nghĩa.

Video Studio

Showing posts with label giao duc. Show all posts
Showing posts with label giao duc. Show all posts

Mar 15, 2014

Sự khác nhau giữa cách nuôi con của mẹ Mĩ và mẹ Pháp

Nhìn những đứa trẻ Pháp ngoan ngoan tự ăn, tự chơi một mình, bà mẹ Mĩ băn khoăn rằng, liệu chúng có bị bố mẹ dụ dỗ, hay thậm chí là đe nẹt? Câu trả lời nằm ở sự khác biệt trong cách nuôi dạy con của bà mẹ Mĩ và mẹ Pháp. Cùng Nhất Việt khám phá sự khác biệt đó.


1. Khi mang thai:
Mẹ Mỹ coi đó là một sự kiện lớn, không ngừng lo lắng về việc chuẩn bị cho sự xuất hiện của một đứa trẻ thì mẹ Pháp lại coi việc đó là hết sức bình thường. Đến ngày sinh, họ vẫn thấy rất bình thản và nhún vai cho rằng: Chuyện gì đến sẽ đến. Nếu có gì không may xảy ra, chúng ta vẫn có thể có em bé khác nữa cơ mà.

2. Sau khi sinh:
Phụ nữ Pháp không dành toàn bộ thời gian để chăm con, bởi họ nghĩ rằng, đó là lúc họ cần tút tát lại cơ thể. Họ cho rằng, làm cha mẹ tốt không có nghĩa là phải thường xuyên phục dịch con cái của mình.Thực ra, các bà mẹ Pháp không hoàn toàn để mặc con cái mình. Họ giải thích rằng, họ không muốn lúc nào cũng bao bọc con, họ hướng cho bọn trẻ tự do phát triển.

3. Về học tập:
Mẹ Mỹ luôn mong muốn con mình phải được học nhiều, biết nhiều. Còn mẹ Pháp không quá chú trọng đến chuyện đó. Họ không khuyến khích con cái đọc sách trước khi lên sáu tuổi. Thay vào đó, họ để trẻ tự do phát triển trí não với những trò chơi thông minh, phù hợp lứa tuổi. Họ luôn nhiệt tình khi nói chuyện với con và dạy chúng nhận biết thế giới xung quanh.

4. Về mặt ăn uống:
Mẹ Pháp quy định rõ với các con mình rằng chỉ được ăn ba bữa chính và một bữa ăn nhẹ vào những thời cố định trong ngày. Bởi vậy, trong khi những đứa trẻ Mỹ suốt ngày đòi ăn vặt thì trẻ con Pháp luôn chờ đến bữa mới ăn.

5. Về giáo dục:

Thể hiện cái uy: Bố mẹ Pháp đối xử với con cái mình vừa nghiêm khắc mà cũng vừa như dễ dãi đến kinh ngạc. Họ cho rằng nếu để con cái tự do làm những gì chúng thích thì có nghĩa là cha mẹ đã đánh mất cái uy của mình. Bố mẹ Pháp cho rằng trẻ con phải có những giới hạn nhất định về hành vi, và người lớn luôn phải giám sát, đảm bảo là lũ trẻ không vượt quá khuôn khổ cho phép đó. Tuy nhiên, bên trong khuôn khổ này thì bọn trẻ vẫn được tự do, thoải mái làm những gì chúng thích.
Các bà mẹ Mỹ dường như lúc nào cũng sợ việc cấm cản con cái sẽ hạn chế sự sáng tạo của chúng. Thế nên, chúng tha hồ tung hoành, làm bất kỳ những điều gì chúng muốn.

Nói “không” với con: Để có thể giáo dục được bọn trẻ, người Pháp chỉ ra rằng, thay vì đánh đòn hay quát nạt, các ông bố, bà mẹ hãy cách học “nói không” với chúng một cách thuyết phục và có uy hơn. Bởi vậy, trong khi các bà mẹ Mỹ thường dặn con phải ngoãn ngoãn thì các bà mẹ Pháp nói với lũ trẻ rằng chúng cần phải khôn ngoan và làm chủ được hành vi của mình.

Dạy con biết chờ đợi: Các bà mẹ Mỹ thường có xu hướng vội vã đáp ứng những yêu cầu của con cái họ. Nếu không lũ trẻ hét toáng lên, khóc lóc, ăn vạ…cuối cùng người lớn cũng phải nhanh chóng đầu hàng.
Nhưng các bà mẹ Pháp không như vậy. Họ nghĩ rằng, trẻ con chưa đủ nhận thức để biết những gì chúng muốn có thật sự cần thiết hay không. Vậy thì tại sao người lớn lại phải đáp ứng những đòi hỏi mà đôi khi chúng ta biết là rất vô lý đó?

Một khi đứa trẻ đã được đăt xuống nôi để ngủ, nếu chúng tỉnh giấc và quấy khóc, bố mẹ chúng sẽ không bao giờ bế lên và ru lần thứ hai. Họ làm như vậy để những đứa bé học được cách tự ngủ lại.

Đó là kết quả của những quan sát và lý giải trước những gì diễn ra xung quanh một bà mẹ Mỹ ở trên đất Pháp.
(Tổng hợp)

Mar 12, 2014

Tên gọi University và College khác nhau thế nào

Ở Mỹ, khi bạn vào một University nghĩa là bạn sẽ tốt nghiệp từ một College nào đó của trường. Còn ở Canada và Úc, College chỉ cung cấp các loại chứng chỉ. 


Trong hệ thống giáo dục Mỹ, College là đại học chỉ đào tạo và cấp bằng về một lĩnh vực cụ thể, còn University là một tổng thể bao gồm nhiều College với nhiều lĩnh vực đào tạo. Ví dụ, trong một University, bạn có thể tìm thấy College of Business (gồm các ngành như Accounting (Kế toán), Finance (Tài chính), Marketing (Tiếp thị), Business management hoặc College of Engineering (gồm các ngành về kỹ sư phần mềm, vi tính, cơ khí, cầu đường, dầu khí, hóa…), College of Architecture (ĐH Kiến trúc), College of Education (ĐH Sư phạm)... 
Ở một số trường đại học, người ta cũng có thể dùng từ School thay cho College. Ví dụ, School of Medicine (ĐH Y khoa), School of Business, School of Engineering…
Nói cách khác, khi bạn vào một University, nghĩa là bạn sẽ tốt nghiệp từ một College nào đó của trường. Do vậy, xét về mặt học thuật, ý nghĩa của hai từ University và College không khác biệt nhiều khi nói đến đại học ở Mỹ. Phần lớn người Mỹ đều dùng từ College thay vì University để nói đến việc học ở cấp bậc đại học.
Người ta chỉ dùng từ University khi đề cập đến một trường đại học cụ thể nào đó, ví dụ như Harvard University, Stanford University, hay University of California in Los Angles...
Tuy nhiên, cũng có một số trường đại học vẫn giữ chữ College trong tên trường của mình thay vì University vì nhiều lý do. Một trong những lý do đó là ý nghĩa và giá trị lịch sử của ngôi trường. Ví dụ như College of William & Mary ở Virginia, thành lập năm 1693 vẫn giữ nguyên tên này cho dù nó tương đương University.
Hoặc Dartmouth College ở New Hampshire thành lập năm 1769 cũng là một đại học danh tiếng bậc nhất của Mỹ. Cũng có những University hoàn toàn không dùng từ này trong tên trường của mình như Massachusetts Institute of Technology (MIT).
Mặt khác, ở Mỹ, bạn cũng cần phải phân biệt College trong các trường đại học với Community College. Trong khi các trường đại học có thể đào tạo và cung cấp các bằng cử nhân, thạc sĩ hoặc tiến sĩ và làm các công việc nghiên cứu thì Community College chỉ có thể đào tạo và cung cấp các bằng hai năm (Associate’s degree, giống như bằng trung cấp ở Việt Nam), hoặc các chứng chỉ dạy nghề (certificates).
Sinh viên cũng có thể theo học hai năm đầu của bậc đại học ở Community College trước khi chuyển sang đại học để học hai năm cuối và lấy bằng cử nhân tại đại học đó. So với các trường đại học, Community College rẻ tiền hơn và cũng dễ dàng được nhận vào hơn.
Tuy nhiên, ở một số nước nói tiếng Anh khác trên thế giới, việc sử dụng từ University và College cũng có sự khác biệt. Ví dụ, ở Canada, University là nơi cung cấp bằng cử nhân, thạc sĩ, hoặc tiến sĩ, nhưng College chỉ có thể cung cấp các loại chứng chỉ.
Tương tự, ở Australia, các trường College được gọi là Technical and Further Education (TAFE) cũng chỉ có thể cung cấp các loại chứng chỉ.
Vì vậy, nếu nhìn ở góc độ của người Mỹ, các trường đại học Việt Nam đều là College vì mỗi trường chỉ đào tạo một lãnh vực riêng biệt. Ví dụ, ĐH Bách khoa chỉ đào tạo kỹ sư, nên nó chỉ có thể là College of Engineering, ĐH Kinh tế là College of Business, ĐH Y là College of Medicine, ĐH Y Dược chỉ có thể là College of Pharmacy, ĐH Sư phạm là College of Education…
Nhưng nếu đem Việt Nam ra so sánh với các nước khác trên thế giới, việc sử dụng từ University hay College cũng có thể được thay đổi tùy theo hoàn cảnh (giống như ở Canada hay Australia). Cho nên, việc dịch tên các trường đại học ở Việt Nam sang tiếng Anh quan trọng nhất là đúng ý nghĩa và chức năng của từng trường và cần có sự thống nhất giữa các trường.
Nguyễn Nghĩa/vnexpress.net

Mar 10, 2014

Sự khác nhau giữa việc học phổ thông và đại học

- Học phổ thông là tiếp thu những kiến thức cơ bản cần thiết qua sự truyền đạt của giáo viên...Việc học sinh ấy tiếp thu có đầy đủ hay không,( rất khuyến khích sự sáng tạo,khả năng đọc lập suy nghĩ của học sinh)..thì thể hiện qua kiểm tra 15 phút, 1tiết , học kỳ, thi tốt nghiệp..Cách dạy..vẫn là. TRUYỀN ĐẠT kiến thức..đến học sinh sao cho có hiệu quả nhất , kể cả giáo dục nhân cách.. 

Nữ sinh phổ thông

- Học đại học : là rèn luyện khả năng TỰ TƯ DUY,TỰ NGHIÊN CỨU..dựa trên những kiến thức đã có..Thế nên Sinh Viên rèn sâu kỹ năng tự PHÂN TÍCH, TỔNG HỢP và GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.. 

Kết quả để đánh giá sinh viên có đạt "tiêu chuẩn"..hay không dựa trên những bài viết tự làm như : tiểu luận , đề tài, luận văn (hoặc đề án..). Trong phần Luận văn thời kỳ sau này, có nhấn mạnh phần giải quyết vấn đề, sinh viên tự độc lập suy nghĩ để đưa ra phương án thực tế thích hợp..miên thảo thấy điều này tuy sinh viên vẫn còn dựa dẫm giáo viên hưỡng dẫn, nhưng nó vẫn có hướng tốt..so với những đề tài trước đó rất lâu. 

Mar 5, 2014

Bộ ảnh thú vị về sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây

Phương Đông và phương Tây vốn luôn chứa đựng nhiều quan niệm khác biệt. Bộ ảnh đồ họa dưới đây sẽ đề cập tới sự khác biệt đó dưới góc nhìn gắn gọn, hài hước, thú vị, đầy tính chiêm nghiệm.

Một nghệ sĩ trẻ người Trung Quốc có tên Yang Liu hiện đang sinh sống tại Đức vừa cho ra mắt bộ ảnh đồ họa có tên “East Meets West” (Đông Tây gặp gỡ). Bộ ảnh cho thấy sự khác biệt trong đời sống văn hóa - xã hội giữa phương Đông và phương Tây.
“Đông Tây gặp gỡ” thể hiện cách nhìn vừa chính xác vừa hài hước về sự khác biệt muôn thuở. Nghệ sĩ Yang Liu cho biết: “Những thông tin được thể hiện trong bộ ảnh đồ họa này mang ý nghĩa tương đối cá nhân, dựa trên những trải nghiệm và cảm nhận của bản thân tôi sau gần hai thập kỷ sinh sống ở Châu Âu”.
Dưới đây là bộ ảnh thú vị của nghệ sĩ Yang Liu:
Cách thể hiện ý kiến cá nhânCách thể hiện ý kiến cá nhân: Người phương Tây quan trọng sự thẳng thắn. Người phương Đông đề cao sự khéo léo, mềm mỏng.
Phong cách sốngPhong cách sống: Người phương Tây đề cao cái Tôi, năng lực cá nhân, cá tính riêng… Người phương Đông trân trọng cái Ta, con người phải luôn biết hòa nhập với môi trường xung quanh để tạo nên sự hài hòa.
Vấn đề đúng giờVấn đề đúng giờ: Đúng giờ là yếu tố rất được tôn trọng trong các cuộc gặp gỡ ở thế giới phương Tây. Người ta không cần đến sớm để thể hiện sự tôn trọng nhưng càng không nên đến muộn vì đó là hành động bất lịch sự. Người phương Đông thì khác, họ có thể xê dịch giờ hẹn đôi chút và điều đó không trở thành vấn đề lớn.
Cấp trênCấp trên: Trong thế giới phương Tây, sếp cũng là người đi làm kiếm sống như nhân viên, chỉ có điều cấp bậc, tầm nhìn và lương bổng của sếp cao hơn một chút. Ở phương Đông, sếp được coi là “người khổng lồ”.
Các mối quan hệ và sự kết nối trong xã hộiCác mối quan hệ và sự kết nối trong xã hội: Các mối quan hệ trong thế giới phương Tây không mang nặng tính “dắt dây” như trong xã hội phương Đông.
Cách thể hiện cảm xúcCách thể hiện cảm xúc: Người phương Tây vui buồn đều thể hiện khá rõ ràng còn người phương Đông có thể “trong héo ngoài tươi”.
Văn hóa xếp hàngVăn hóa xếp hàng: Thực tế văn hóa xếp hàng đã dần hình thành tại nhiều nước phương Đông, đặc biệt tại các thành phố lớn. Tuy vậy, nhìn chung, nó chưa ăn sâu vào nếp sống của người phương Đông ở mọi lúc mọi nơi.
Nhìn nhận về bản thânNhìn nhận về bản thân: Người phương Tây rất quan trọng cái Tôi, đề cao tính cá nhân trong một số khía cạnh của đời sống. Họ đòi hỏi những người xung quanh phải tôn trọng những gì thuộc về vấn đề cá nhân. Ở phương Đông, cái Tôi thường nhỏ bé, dễ bị khỏa lấp và việc quên đi cái Tôi được cho là một đức tính đáng khen ngợi.
Đường phố ngày cuối tuầnĐường phố ngày cuối tuần: Những ngày cuối tuần, đường phố phương Tây thường vắng vẻ, họ không đổ ra đường mà thường có hai lựa chọn: một là ở nhà ngủ bù cho cả tuần lao động vất vả, hai là về miền quê vui chơi, hít thở không khí trong lành. Ở phương Đông, đặc biệt tại các thành phố lớn, người dân thường đổ ra đường, tới các khu vui chơi và trung tâm mua sắm để giải trí.
Tiệc tùngTiệc tùng: Tại những bữa tiệc trang trọng, người phương Tây thích đứng thành nhóm nhỏ, rủ rỉ trò chuyện. Người phương Đông thích ngồi thành những nhóm lớn, trò chuyện ồn ào, đó được coi là biểu hiện của sự hào hứng, vui vẻ. Tiệc càng ồn càng chứng tỏ tổ chức thành công.
Tiếng ồn trong nhà hàngTiếng ồn trong nhà hàng: Người phương Tây rất ngại việc nói to ở nơi đông người. Vì vậy, ở nơi công cộng như nhà hàng, quán ăn, họ nói nhỏ, chỉ đủ để người ngồi với mình nghe thấy. Ngay cả việc gọi nhân viên phục vụ cũng được thể hiện bằng ánh mắt và động tác tay. Người phương Đông khá vô tư trong việc này, họ có thể nói to, gọi nhau í ới ở nơi đông người.
Thức uống “lành mạnh”Thức uống “lành mạnh”: Ở phương Tây, nếu ai đó bị yếu bụng hoặc đau dạ dày, khi dùng bữa, họ sẽ uống nước ngọt có gas, trong khi đó, người phương Đông sẽ gọi trà hoặc nước khoáng.
Đi du lịchĐi du lịch: Người phương Tây đề cao việc quan sát và trải nghiệm thực tế trong suốt chuyến đi. Trong khi đó, đối với người phương Đông, việc lưu lại hình ảnh làm kỷ niệm trong từng chặng đường, từng địa điểm thăm quan là một việc quan trọng không kém.
Vẻ đẹp lý tưởngVẻ đẹp lý tưởng: Người phương Tây thích da nâu, người phương Đông thích da trắng.
Trẻ em trong gia đìnhTrẻ em trong gia đình: Trẻ em ở phương Tây không được cả gia đình chăm lo, ưu ái như ở phương Đông. Trong gia đình phương Tây, trẻ em có vị trí ngang bằng như những thành viên khác trong nhà, cũng có quyền lợi và nghĩa vụ riêng. Ở phương Đông, em bé thường được coi là trung tâm thú vị của cả nhà và các thành viên sẽ xoay quanh “tâm điểm” này.
Giải quyết vấn đềGiải quyết vấn đề: Người phương Tây coi trọng kết quả sau cùng, vì vậy, họ sẵn sàng đương đầu với vấn đề cản trở, cốt sao đạt được mục tiêu nhanh nhất. Người phương Đông quan trọng quá trình thực hiện. Vốn không thích đối đầu, xung đột, nên người phương Đông có thể chấp nhận đi vòng một chút, tuy mất thời gian hơn nhưng vẫn đạt được kết quả sau cùng và không tổn hao quá nhiều sức lực.
Các bữa ăn trong ngàyCác bữa ăn trong ngày: Người phương Tây thường ăn sáng vội vàng, ăn tối qua loa, thường dùng đồ ăn nhanh, bữa trưa vì vậy được coi là bữa ăn thư thái nhất trong ngày khi họ có thể rủ bạn bè ra tiệm dùng bữa. Người phương Đông đề cao tầm quan trọng của cả 3 bữa ăn trong ngày, họ thích sự nóng sốt. Ăn uống qua quýt theo kiểu “cơm đường cháo chợ” là điều không ai thích.
Phương tiện di chuyểnPhương tiện di chuyển: Trước đây, khi người phương Tây coi ô tô là phương tiện di chuyển hiệu quả nhất, người phương Đông còn đi xe đạp. Giờ đây, người phương Tây lại coi xe đạp là phương tiện di chuyển “lành mạnh” nhất, trong khi đó, người phương Đông đã chuyển sang đi ô tô (nếu có điều kiện).
Cuộc sống của người giàCuộc sống của người già: Dạo chơi công viên ở phương Tây, bạn sẽ bắt gặp nhiều cụ già dắt thú cưng đi dạo. Ở phương Đông, bạn sẽ thấy các cụ già dắt cháu đi chơi.
Tắm tápTắm táp: Người phương Tây thích tắm sáng rồi mới đi làm. Người phương Đông thích tắm tối trước khi đi ngủ.
Ẩm thực sành điệuẨm thực sành điệu: Người phương Tây sành điệu sẽ tìm tới các món Á. Người phương Đông “ăn chơi” sẽ tìm tới các món Âu.
Thời tiết và cảm xúcThời tiết và cảm xúc: Người phương Tây thích nắng, ghét mưa. Họ đặc biệt yêu những ngày nắng (có lẽ vì thế mà họ thích da nâu). Người phương Đông thích cả mưa và nắng. Nắng mưa đối với người phương Đông đều có nét đẹp, nét thú vị riêng.
Đông Tây trong mắt nhauĐông Tây trong mắt nhau: Trong mắt người phương Tây, người phương Đông đặc trưng với nón lá, thích uống trà và ăn cơm. Người phương Đông ấn tượng với người phương Tây vì mũ nồi cao, xúc xích và bia.
 
Bích Ngọc
Theo Bored Panda

Mar 3, 2014

Sự khác nhau giữa chứng nhận và chứng chỉ

Trong giáo dục ở nước ngoài, Diploma (tạm dịch: Chứng chỉ) và Certificate (tạm dịch: chứng nhận) hàm chứa một số thông tin khác nhau cơ bản.
Một chứng chỉ (Diploma) thường được trao để chứng nhận bạn đã hoàn tất thành công một khóa học của cơ sở đào tạo nào đó, với một số yêu cầu nhất định.
                              http://khacnhauthenao.blogspot.com/
Những chứng chỉ này cũng giúp chứng nhận được trình độ học vấn của người nhận. Trong khi đó, chứng nhận (Certificate) thì bao hàm những nội dung rộng hơn, với nhiều mục đích khác nhau như giấy chứng nhận khai sinh, giấy chứng nhận đăng kí kết hôn… Trong lĩnh vực giáo dục, giấy chứng nhận được trao cho sinh viên khi họ đã vượt qua được một kì thi, dành giải trong một cuộc thi hay đôi khi cũng để chứng nhận họ đã hoàn thành một khóa học.
                                                        http://khacnhauthenao.blogspot.com/
Khi nói về những khóa học cấp bằng và những khóa học cấp chứng chỉ, ý nghĩa cũng có một chút khác biệt. Những chương trình học cấp Certificate thường kéo dài trong thời gian ngắn hơn, thường là trong vài tháng. Đó có thể là khóa học lái xe, học sơ cứu, học thiết kế web… Như vậy, những chứng nhận này không nhất thiết phải liên quan đến giáo dục mà có thể thuộc về các lĩnh vực khác.
Trong khi đó, một khóa học cấp Diploma thường kéo dài đến thời gian tính hàng năm trời. Để nhận được Diploma, bạn phải đạt được một số điểm hay thỏa mãn các yêu cầu nhất định.
Tóm lại:
  • Chứng nhận (Certificate)  có thể được sử dụng trong những lĩnh vực khác nhau như giấy khai sinh, giấy đăng kí kết hôn, nhưng chứng chỉ (Diploma) thì chỉ dành cho lĩnh vực giáo dục.
  • Chứng chỉ (Diploma) thường được trao cho những sinh viên đã hoàn tất việc học ở trường cấp III và các chương trình học sau đó, trong khi chứng nhận (Certificate) có thể được trao cho những ai đã thành thạo bất kì kĩ năng nào trong đời sống, không nhất thiết phải liên quan đến giáo dục.
  • Các khóa học cấp chứng chỉ thường kéo dài hơn các khóa học cấp chứng chứng nhận.

Feb 28, 2014

Sự khác nhau giữa ngày thường và ngày 8.3

1. Ngày thường đàn ông thức dậy bình thường. Mùng 8.3 họ thức giấc với một nỗi lo ngại mơ hồ rất khó tả.
2. Ngày thường đàn ông vẫn rửa bát quét nhà. 8.3 họ quét nhà rửa bát trong niềm tự hào.
3. Ngày thường đàn ông khen vợ xinh đẹp. 8.3 họ khen: “Em xinh đẹp cả ngày”.
4. Ngày thường chồng mua rau về nhà. 8.3 chồng mua hoa.
5. Khi chồng phạm lỗi trong ngày thường, vợ bảo: “Tôi khổ vì anh”. Khi họ phạm lỗi trong ngày 8.3, vợ bảo: “Tôi nhục vì anh”.
6. Ngày thường vợ cáu gắt. Ngày 8.3 vợ không cáu gắt mà chuyển sang rình mò.
7. Ngày thường dẫn vợ đi xem phim gì cũng được. Ngày 8.3 cần đưa vợ đi xem những phim có đàn ông bị bắt làm nô lệ.
 http://khacnhauthenao.blogspot.com/
Minh họa: DAD 
8. Ngày 8.3 dẫn vợ đi ăn cơm. 7.3 dẫn bồ, còn 9.3 đàn ông tụ tập bên nhau, nhìn nhau cười ngượng nghịu.
9. Ngày thường đi chợ không suy nghĩ. Ngày 8.3 đàn ông đi chợ với chút buồn tủi trong lòng.
10. Ngày thường đàn ông chẳng nghĩ gì. 8.3 nghĩ về những năm tháng còn độc thân.
11. Ngày thường mọi câu hỏi của con cái đều trả lời dễ dàng. 8.3 khi con hỏi: “Sao bố hôm nay lại giặt đồ?”, sẽ thở dài và nói: “bao giờ lớn lên con sẽ hiểu”.
12. Ngày thường vợ sai gì cũng làm. 8.3 vợ sai gì cũng làm gấp đôi.
13. Ngày thường tìm mọi cách ở nhà. 8.3 tìm mọi cách ở cơ quan.
14. Ngày thường hỏi vợ: “Hôm nay em làm gì?”. 8.3 hỏi vợ: “Hôm nay anh phải làm gì?”.
15. Ngày thường làm rất nhiều điều giấu vợ. 8.3 làm rất nhiều điều giấu các bạn đàn ông.
16. Ngày thường chẳng hiểu tương lai là gì. 8.3 biết tương lai chính là ngày mai.
17. Khi sếp là phụ nữ, ngày thường ta vẫn nịnh nọt. Ngày 8.3 ta nịnh luôn cả chồng của sếp.
18. Khi mua món nào trong 8.3 bị đắt, ta đều trả tiền một cách nhẫn nhịn.
19. Ngày thường khi vợ mặc quần áo đẹp ta khen. 8.3 vợ mặc quần áo gì ta cũng phải khen.
20. Ngày thường vợ nói gì cũng đúng. 8.3 vợ chẳng nói gì cũng đúng như thường.
21. Ngày thường dẫn vợ đi ăn tiệm chẳng nhìn ai. 8.3 dẫn vợ đi và liếc nhìn các ông chồng khác.
22. Ngày thường mua quà cho vợ để trên bàn. 8.3 mua quà trao bằng cả hai tay.
23. Ngày thường hơi tí là cáu với vợ. 8.3 hơi tí là cáu với mình.
24. Ngày thường thức dậy vừa tắm vừa hát. 8.3 thức dậy vừa tắm vừa suy tính.
25. Ngày thường hỏi vợ: “Em nấu cơm chưa?”. 8.3 hỏi vợ: “Em vui không?”.
26. Ngày thường đi với bồ nói: “Anh cô đơn lắm”. Ngày 8.3 nói: “Anh mệt mỏi lắm”.
27. Ngày thường định mua gì cho vợ bỗng sực nghĩ ra, tự đắc bảo mình: “Để 8.3 mua luôn thể”, và cười nham hiểm.
28. Ngày thường chẳng bao giờ nghĩ tới văn chương. 8.3 bỗng nhớ tới cuốn tiểu thuyết Một ngày dài hơn thế kỷ.
29. Ngày thường về nhà mệt mỏi. 8.3 về nhà lo sợ.
30. Ngày thường nghĩ về tình hình thế giới. 8.3 nghĩ về thân phận mình. 
Lê Hoàng
Nguồn : Thanh Niên

20 điểm khác nhau giữa gái hư và gái ngoan

Gái ngoan thích tình nào cũng giống như tiểu thuyết, thích trai nào cũng phải giống sách giáo khoa, kiếm tìm và kiếm tìm để rồi thường phải lượm bất cứ cuốn sách giáo khoa lỗi thời nào từ năm học trước, giấy thì nhàu và chẳng có mùi thơm.
1. Gái hư yêu nhất bản thân mình, gái ngoan yêu người yêu. 
2. Khi lên giường, gái ngoan tự cởi quần áo, gái hư đợi trai cởi đồ cho. 
3. Khi vào khách sạn, gái hư nắm tay trai, gái ngoan đi theo sau trai. 
4. Khi đi ăn nhà hàng, gái ngoan nói tuỳ anh chọn món, gái hư xem xét thật kỹ menu và chọn món nào mình thích nhất. 
5. Khi đi du lịch, gái ngoan nói trai xách đồ cho mình, gái hư tự mình làm mọi thứ. 

6. Khi ra mắt bố mẹ trai, gái ngoan nói "con thích hai bác", gái hư nói "con yêu con trai hai bác". 
7. Khi dắt trai về ra mắt bố mẹ mình, gái ngoan nói "đây là người yêu con" gái hư nói "đây là người con yêu". 
8. Khi làm tình, gái ngoan nói "em hư hỏng quá", gái hư nói "ôi, em chết mất". 
9. Khi đi chơi với bạn bè của trai, gái ngoan chỉ dám nắm tay trai, gái hư hôn say đắm. 
10. Sinh nhật mình gái ngoan đòi hoa hồng và quà đắt tiền, gái hư rủ trai đi du lịch. 
11. Khi đi biển, gái ngoan mặc đồ "bà ngoại", gái hư mang theo 6 bộ bikini. 
12. Khi đi bar, gái ngoan gọi bia, gái hư gọi cocktail. 
13. Gái hư chơi thể thao, gái ngoan sợ da cháy nắng. 
14. Gái hư da ngăm đen, gái ngoan da trắng bóc. 
15. Gái hư dùng đồ handmade, gái ngoan dùng đồ hiệu 

16. Gái hư mặc áo sơ mi trắng dài với quần sọoc ngắn, gái ngoan mặc đầm. 
17. Gái hư có tattoo, gái ngoan nói tattoo là hư hỏng.
18. Gái hư biết nói ít nhất 2 ngoại ngữ, gái ngoan chỉ biết tiếng Việt. 
19. Gái hư kiếm tiền giỏi, gái ngoan đợi trai bao. 
20. Gái hư nói mình là gái ngoan, gái ngoan nói mình là gái ngoan

Feb 27, 2014

Sự khác nhau giữa "xinh" và "đẹp"

Một quan niệm khác về XINH và ĐẸP:


Nhân đầu năm mới, tôi xin chia sẻ chút quan niệm cá nhân về XINH và ĐẸP.
Tết nhất bị chết đuối trong mớ câu hỏi: “Người yêu đâu sao không dẫn về?” hay “Sao con ấy xinh thế mà không yêu?” và hàng tá thứ tương tự. Tôi thường hay trả lời: “Tại cô ấy chưa đẹp.” Nhân đầu năm mới, tôi xin chia sẻ chút quan niệm cá nhân về XINH và ĐẸP.

XINH

Giờ nói xinh gái thì nhiều lắm. Chưa kể thành phố tôi là một trong những thành phố có nhiều gái XINH nhất cả nước – Hải Phòng. Chỉ cần bước chân ra khỏi nhà, quay đầu nửa vòng thôi là đã lọt vào mắt tới 3 cô hàng xóm xinh xắn. Chưa kể giờ công nghệ trang điểm nhan nhản, quần áo kiểu cách tràn lan, đôi khi còn phát sinh ra cái bệnh gọi là “bội thực gái xinh”. Đấy mới là tính riêng trên đường phố thôi đấy. Còn số lượng hot girl ảo trên mạng giờ cũng đã “bão hòa” nhờ vào Camera360, Instagram và nhiều “chuyên gia trang điểm” khác.


Cũng nhờ đội ngũ đông đảo cái sự xinh ấy mà tôi rút ra được cái khuôn mẫu chung. Để được khen xinh dễ lắm. Miệng cứ phải chúm chím, mắt cứ phải lens – to mà vô cảm, da cứ phải trắng bóc màu bạch tạng, và vạn vật xung quanh khiến em như đang chụp hình lúc nhà đang cháy. Ai có “đầy đủ điện nước” (ngôn ngữ của dân soi hàng), biết uốn éo, biết khoe chỗ các anh muốn nhìn thì càng được tâng bốc lên tới hàng “hot girl” “xinh như hàn quốc” “làm người mẫu đi em ơi”.

Có lần tôi bắt gặp trên mạng một bức ảnh một cô gái trẻ ăn mặc thời trang, trang điểm kĩ càng cầm iphone tạo dáng trước gương chụp ảnh, phía sau xa xa là một bác gái khoảng 50 tuổi đang quét nhà, hoàn toàn không biết cô gái đang chụp hình. Caption của bức ảnh đó là: “Lâu lắm mới được chụp ảnh cùng với mẹ. Thương mẹ vất vả nhiều.” Vậy mà vẫn rất nhiều người vào bình luận khen vẻ đẹp của cô gái thay vì nhận xét về cái đắng của bức ảnh.

Thế nên giờ tôi thấy cái chuẩn mực XINH nó mất gốc rồi. Cái xinh ngày xưa chỉ là mặt ưa nhìn, ăn mặc ổn, đi lại nhẹ nhàng. Thế là xinh. Còn giờ nếu không phải từ cái khuôn kia ra thì có xinh mấy cũng chẳng ai thèm để ý tới.

ĐẸP

ĐẸP thì tuy có liên quan tới XINH, nhưng ít, và thậm chí có phần đối lập, so với những chuẩn mực bây giờ. Bản thân tôi rất ít khi khen ai đẹp. Vì ĐẸP của tôi là đẹp trong lời ăn tiếng nói, trong thái độ đối nhân xử thế kìa. ĐẸP là từ cái tâm phát ra ngoài, là để cảm, chứ không phải là cái nhìn lướt qua rồi bình phẩm.

Nói nghe thì có vẻ trừu tượng, nhưng thực ra cũng dễ hiểu lắm. Một cô gái được đúc từ khuôn hạng AAA đi xe máy lách qua một cụ già đang sang đường, vừa lách vừa chửi những lời tục tĩu vì cụ làm vướng đường, và một cô gái ăn mặc giản dị dìu cụ qua đường, bạn thấy ai đẹp hơn?

Mẹ tôi đẹp. Dễ hiểu thôi, một người phụ nữ chấp nhận đón chịu cơn đau xé gan xé thịt, chấp nhận bao ngày tháng kiêng khem những thứ khao khát được ăn, chấp nhận phá hỏng dáng dấp thon thả ngày nào để tôi được ra đời, rồi chấp nhận chịu cực khổ nuôi nấng tôi nên người. Với cái TÂM đó, bảo sao mẹ của mỗi người không là đẹp nhất. Đấy, ví dụ tiêu biểu nhất về một người ĐẸP đấy.

ĐẸP – XINH

Tôi nói ĐẸP có liên quan tới XINH là bởi, phàm cứ hễ ai có cái TÂM đẹp thì cái “chất khí” họ toát ra ngoài khiến trong mắt mọi người, họ XINH, dù bề ngoài của họ không được ưa nhìn cho lắm. Và, cũng phàm những ai đã thuộc nhóm “mọi người” ấy lại không thèm để ý tới nhóm người khuôn đúc bên trên.

Và đây là phần đối lập: XINH thì nổi bật nhanh chóng, còn ĐẸP thì phải tiếp xúc, phải cảm mới thấy. XINH thì tự PR, ĐẸP thì hữu xạ tự nhiên hương. XINH mà không ĐẸP thì hấp dẫn những thằng muốn hút cạn cái thân xác mĩ miều, hút xong thì cũng.. mất hút luôn. Còn ĐẸP mà (có thể) không XINH thì vẫn được những người chân thành xin kết hôn với cái TÂM của người ĐẸP.


Người ta biết vì sao mình thích người XINH: Vì vòng eo, vì khuôn mặt trái xoan, vì da trắng. Còn đứng trước người ĐẸP, người ta sẽ thấy có gì đó mơ hồ, cuốn hút từ một người có diện mạo rất bình thường. XINH thì đáng để lướt mắt qua rồi quên, ĐẸP thì khiến người ta cứ nhớ, một nỗi nhớ mơ hồ, nhưng đậm. XINH mấy thì nhìn mãi cũng chán, rồi cũng tới ngày cái XINH nó hết hạn. Còn TÂM đã ĐẸP thì như bị mê hoặc quên ngày tháng.

Như đã nói, XINH giờ nhiều, mà ĐẸP, tôi tin rằng, cũng nhiều không kém. Cái chính là có nhìn thấy được cái ĐẸP của những người xung quanh không thôi. Hai vợ chồng già trong cảnh nghèo khó vẫn yêu thương đùm bọc lẫn nhau, đó là hai người 

ĐẸP.

Từ trước tới giờ, tôi không có thói quen tìm kiếm con gái XINH để ngắm. Lướt web hay đi đường, đập vào mắt thì nhìn, không thì thôi. Với lại giờ tôi cũng đã có người con gái ĐẸP trong tim mình.
Kìa Con Chim - Theo  Triết học đường phố.

Một số phương pháp dạy học ngoại ngữ trong lịch sử

Lịch sử dạy học ngoại ngữ đã trải qua nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp Ngữ pháp–Dịch, phương pháp Nghe–Nhìn, phương pháp Nghe - Nói, phương pháp Giao tiếp, v.v. 
    

 Phương pháp Ngữ pháp – Dịch

Phương pháp này có tên tiêng Anh là “Grammar – Translation Method” hay còn gọi là phương pháp Truyền thống được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 cho đến tận những năm 1990. Nếu theo phương pháp này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kỹ năng đọc hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngôn ngữ). Quy trình thực hiện: Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng đoạn ngắn. Việc giảng giải quy tắc ngôn ngữ là cơ bản. Học sinh được học về ngữ pháp rất kỹ trên cơ sở các hiện tượng ngữ pháp cơ bản được rút ra từ các bài khóa. Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài khóa (nội dung văn hóa, đất nước học nói chung) và các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài khóa sang tiếng mẹ đẻ. HS không được phép mắc lỗi ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay.
 Ưu điểm:
- HS được rèn luyện rất kỹ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.
- HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc bài khóa mẫu.
- HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản.
Hạn chế:
- Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy; nghĩa là người thầy giảng giải, nói nhiều, HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè.
- Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - HS hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kỹ năng nói của HS bị hạn chế nhiều.

Phương pháp Nghe – Nói
 Phương pháp Nghe - Nói (Audiolingual Method or Audio-Oral Method) nhấn mạnh vào việc dạy kỹ năng nói và kỹ năng nghe trước kỹ năng đọc và kỹ năng viết. Khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch, phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hình thành và phát triển cả bốn kỹ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước đọc và viết. Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học. Phương pháp Nghe-Nói không cho phép việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học. Khi thực hiện, người ta nhấn mạnh việc phát triển hai kỹ năng nói và nghe là chủ yếu. Việc dạy học thông qua thực hành cấu trúc câu (structures) và qua các bài tập ứng dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểm giống nhau (so với tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắc ngôn ngữ. Yêu cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các bài/mẩu đối thoại mẫu (dialogues) có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữ cần truyền đạt. HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quen ngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực hành thêm một số bài tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi …). …
Ưu điểm:
- Có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS. HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ: HS làm theo lệnh của GV hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản.
 Hạn chế:
- HS có trình độ ngoại ngữ cao rất dễ nhàm chán với phương pháp này nếu không có sự điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết.
- HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ là khó. Các em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên vì tuy HS có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, song các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dù sau một thời gian dài học tập.

Phương pháp Giao tiếp
Phương pháp Giao tiếp hay Đường hướng Giao tiếp ((Communicative Approach) được xem như phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay. Hầu hết các giáo trình, SGK phổ thông tiếng Anh trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đều được biên soạn dựa theo quan điểm của phương pháp này. Qua đó, coi mục tiêu cuối cùng của dạy học ngoại ngữ là phát triển kỹ năng giao tiếp/kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills), năng lực giao tiếp (communicative competence). Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xã hội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn ngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp (intention of communication). Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngôn ngữ (language function). Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp. Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ không chỉ tiếp thu và nắm chắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) mà cần phải đạt được năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp. Vì vậy, các tài liệu dạy học hiện đều hướng đến giúp người học có thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như xin phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ sự quan tâm, thích thú hoặc không thích v.v …. Hơn nữa, để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks).
Với phương pháp này, trong giờ dạy giáo viên thực hiện theo 5 bước:
+ Giới thiệu ngữ liệu (presentation)
+ Thực hành bài tập (Exercises)
+ Hoạt động giao tiếp (Communicative activities)
+ Đánh giá (Evaluation)
+ Củng cố (Consolidation).
Ưu điểm: Phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là nó bao trùm mọi phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi hình thành và phát triển bốn kỹ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp. Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có khả năng sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp.
Hạn chế: Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kỹ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm một cách thích đáng. Kết quả là một số HS cảm thấy khó có thể “giao tiếp” vì HS làm sao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi các em không nắm chắc hệ thống qui tắc ngôn ngữ. Mặt khác, theo quan điểm của phương pháp này, quan hệ giữa ý định giao tiếp (bao gồm các hành động lời nói hay là các chức năng ngôn ngữ học được) và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng. Nói cách khác, người ta khó có thể lựa chọn các phát ngôn theo chức năng phù hợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phức tạp.
Trong quá trình dạy học, giáo viên giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thực hiện; HS đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học; tức là phải phát huy cao độ tính tích cực của các em trong luyện tập thực hành. Ở trường THCS (lớp 8 và lớp 9), HS cần tập trung rèn luyện sâu từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Muốn thực hiện được, cá nhân HS phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và cần lưu ý rằng độ lưu loát/trôi chảy (fluency) trong giai đoạn này là rất quan trọng. Điều kiện tối thiểu để HS thực hành kỹ năng ngôn ngữ là mỗi lớp học không quá đông (khoảng 35 HS/lớp); có đầy đủ thiết bị nghe nhìn, băng/đĩa CD, tranh tình huống. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập nên nhấn mạnh vào 4 kỹ năng, và một phần nhỏ kiến thức ngôn ngữ. Kiểm tra kỹ năng ngôn ngữ luôn luôn được ưu tiên trong bất kỹ hình thức nào.
Để thực hiện thành công giờ dạy theo phương pháp này, giáo viên cần:
+ Giảm tối đa thời gian nói của mình trên lớp, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho HS.
+ Dạy học theo cách gợi mở - GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm ra lời giải đáp hoặc con đ­ường đi của mình.
+ Khai thác kiến thức sẵn có/kiến thức nền về văn hoá, xã hội cũng như­ ngôn ngữ của HS trong luyện tập ngôn ngữ.
+ Có thái độ tích cực đối với lỗi ngôn ngữ của HS. Chấp nhận lỗi như­ một phần tất yếu trong quá trình học ngoại ngữ, giúp HS học tập được từ chính lỗi của bản thân và bạn bè.
+ Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (product) mà còn chú trọng đến cả quá trình (process) luyện tập và phương pháp học tập của HS.

Một số ví dụ minh họa
Phương pháp Giao tiếp đòi hỏi người học phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks). Ví dụ, trong phần giới thiệu ngữ liệu của Unit 4 lớp 9; Mục  2. Listen and Read, HS được giới thiệu cả về chủ đề bài học (kinh nghiệm học ngoại ngữ) và kiến thức ngôn ngữ (tường thuật câu nói từ trực tiếp sang gián tiếp: dạng câu khẳng định và câu hỏi) trong tình huống đối thoại (Lan nói chuyện với Paola, một nữ sinh ngoại quốc về bài thi nói tiếng Anh mà Lan vừa tham dự). Nhiệm vụ (task) mà HS phải thực hiện là Nghe, luyện đọc bài hội thoại và tìm ra các câu hỏi gián tiếp mà ban giám khảo hỏi Lan (phần a.). GV dùng tình huống trong bài đối thoại để làm rõ nghĩa dạng câu hỏi theo cách nói gián tiếp của 2 loại tường thuật câu hỏi, ví dụ:
- She asked me what my name was, and where I came from.
- She asked me if I spoke any other languages.
Bước tiếp theo, GV cho HS luyện tập qua việc yêu cầu HS đọc bảng danh sách câu hỏi trực tiếp (thi vấn đáp tiếng Anh) của ban giám khảo để so sánh và xác định với các câu hỏi gián tiếp trong bài đối thoại (phần b.); sau đó HS luyện tập đối thoại trực tiếp theo cặp (đóng vai Lan và người giám khảo). Mục đích là củng cố hình thái loại câu hỏi trực tiếp cho HS trước khi cho các em luyện tập đổi sang câu hỏi gián tiếp.
Bước tiếp theo là hoạt động giao tiếp mang tính tự do hơn. GV có thể yêu cầu HS dựa vào bài đối thoại giữa Lan và người giám khảo để đóng vai Lan và Paola tập nói lại nội dung các câu hỏi trực tiếp đó ở dạng câu hỏi gián tiếp (như bài đối thoại trong phần giới thiệu ngữ liệu).
Để tăng cường giao tiếp ở mức hoàn toàn tự do (mang tính sáng tạo), GV có thể yêu cầu HS luyện tập phỏng vấn theo cặp theo các tình huống do giáo viên gợi ý; sau đó HS đại diện cho mỗi cặp tường thuật lại các câu hỏi ở dạng gián tiếp.
Như vậy, ví dụ trên cho thấy việc dạy kiến thức ngôn ngữ (câu hỏi gián tiếp) được giới thiệu thông qua tình huống giao tiếp, vừa đảm bảo việc truyền tải được hiện tượng ngôn ngữ theo văn cảnh có nghĩa, vừa bám sát nội dung chủ đề của bài học. Điều quan trọng là HS được luyện tập và có thể vận dụng vào các tình huống giao tiếp tương tự